phim mảnh đất lắm người nhiều ma
Phim Hành động; Phim Hoạt hình; Phim Bí ẩn; Ma - kinh dị; Khoa học viễn tưởng; Phim Tình cảm; Phim Hài hước; Phim Cổ trang; Phim Tài liệu; TV Show; Phim Hình sự; Phim 18+ Bộ phim được sản xuất năm 2002 dựa trên tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc
Premier League, mảnh đất lắm thầy nhiều ma. Premier League tiếp tục khẳng định đây là giải đấu đáng sợ nhất thế giới, nhưng không phải trên khía cạnh chuyên môn. Nơi đây xứng đáng là mảnh đất lắm thầy nhiều ma nhất hành tinh. Sự kiện HLV Claudio Ranieri bị Leicester sa
Cho đến khi bạn xem đi xem lại bộ phim nhiều lần, thì bạn mới thấy được cái chất "thật" của thông điệp mà phim mang lại. Highly recommend đối với các bạn đã từng xem nhiều phim đồng tính, không rec cho bạn nào vẫn lạ lẫm với đề tài này. 2. Room in Rome (2010)
Mảnh Đất Nhiều Ma 3. Huy 30/11/2021. Ông Hào và Nam mặt tái mét, họ nhìn nhau run sợ. Một người đứng cạnh chứng kiến vụ việc lên tiếng. - Dạ, sự việc xảy ra nhanh lắm ạ. Cháu vừa thấy nó bị là hô hoán mọi người rồi,vậy mà chớp mắt một cái nó đã….
quý ông hoàn hảo và cô nàng tạm được - perfect and casual, là bộ phim tâm lý tình cảm trung quốc xoay quanh cuộc sống và chuyện tình yêu của chàng trai trương tư niên hiện tại, kênh có nhiều server để các bạn xem bộ phim lấy bối cảnh tương lai, 97 năm sau khi một thảm họa hạt nhân giết chết mọi sinh vật tồn tại trên trái đất ngày tuần tháng thơm …
Animation 3D #4. Motion Graphics. Motion Graphics chính là những mảnh ghép đồ họa kỹ thuật số được tạo ra để tạo ra ảo ảnh các chuyển động, thường được sử dụng cho mục đích quảng cáo, tiêu đề trong một bộ phim - nhưng mục đích cơ bản của nó chính là để truyền tải thông điệp nào đó với người xem.
Vay Tiền Online Banktop. Mảnh đất lắm người nhiều ma là tên một tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khắc Trường được sáng tác vào năm 1990. Mảnh đất lắm người nhiều ma được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Khắc Trường viết về nông thôn Việt Nam. Tiểu thuyết này từng được dựng thành phim truyền hình với tiêu đề Đất và người năm 2002 bởi đạo diễn Nguyễn Hữu Phần, và nhận được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991. Nội dung chính Không gian của câu chuyện là địa bàn nông thôn ven sông Công Thái Nguyên trong thời gian năm 1988, khi mà Việt Nam đang bắt đầu thời kỳ đổi mới. Nội dung chính của tiểu thuyết là sự đấu đá cá nhân của hai dòng họ, họ Vũ và họ Trịnh ở làng Giếng Chùa, mà đại diện là Vũ Đình Phúc trưởng họ Vũ và anh em Trịnh Bá Hàm trưởng họ Trịnh, Trịnh Bá Thủ em của Hàm, bí thư Đảng ủy Đảng Cộng sản Việt Nam của xã. Đây là hai họ lớn nhất và có máu mặt nhất trong làng nhiều người giàu có, nhiều người có quyền chức là đi thoát ly. Mối hiềm khích giữa hai họ này qua lời kể lại trong tác phẩm thực ra đã kéo dài từ nhiều đời trước và đến đời Phúc - Hàm thì trực tiếp liên quan đến mối tình thù. Trước kia, khi còn trẻ, Phúc có quan hệ yêu đương với bà Son lúc đó Phúc đã có vợ, sau đó vì nhát gan mà bỏ bà Son. Bà Son sau đó bị bố mẹ ép gả cho Hàm có biệt danh Hàm thọt, sau khi cưới nhau, Hàm phát hiện ra vợ mình đã bị mất trinh khiến cho bà Son vì cớ đó sợ hãi phải sống như một cái bóng, tự coi mình là con tôi đòi trong nhà để đổi lấy việc Hàm để cho mình sống yên ổn trong nhà. Đây cũng chính là nguyên nhân chính khiến Hàm rất thù Phúc. Câu chuyện cứ xoay quanh những ân oán hai họ, và những đấu đá trong làng quê, được nâng cao lên quan điểm thành ra sự đấu đá trong chi bộ Đảng CSVN của xã mà ở đó Thủ làm bí thư xã, Phúc là chủ nhiệm hợp tác xã. Đỉnh cao của ân oán là việc ông Hàm âm mưu đào mộ bố Phúc mới mất để yểm bùa nhằm ám hại dòng họ Phúc nhưng bị phát hiện, sau đó bị bắt giam. Thủ dùng chị dâu mình là bà Son lừa cho ông Phúc rơi vào bẫy, vu oan cho hai người có tình ý, viết biên bản và bắt ép Phúc phải hòa giải để cứu ông Hàm. Sau đó lại dùng biên bản này để ép bà Son phải giả mạo đơn tố cáo Phúc có ý định cưỡng hiếp mình. Mâu thuẫn được đẩy cao lên đỉnh điểm khi bà Son bị cưỡng bách cao độ, xấu hổ và không còn lối thoát đã nhảy xuống sông tự vẫn và Phúc là người đầu tiên vớt xác bà. Câu chuyện cũng gắn liền với một mối tình oan trái là con gái của ông Hàm, Đào yêu Tùng, cháu gọi ông Phúc bằng cậu mẹ Tùng là chị gái ông Phúc, người họ Vũ. Tùng là Đảng viên tốt, cựu quân nhân, có trí vươn lên và muốn vượt qua những định kiến dòng họ, đồng thời cùng những Đảng viên tốt khác muốn xóa bỏ những bóng đen hắc ám trong chi bộ Đảng, làm trong sạch đội ngũ để xây dựng quên hương. Cùng sát cánh với Tùng còn có Trung tá Chỉnh, bạn chiến đấu của bố Tùng, cả hai thành một cặp Đảng viên đang vươn lên để xây dựng nền nếp mới cho chi bộ. Chuyện tình của Tùng và Đào tưởng chừng như dang dở sau khi chính Tùng phát hiện ra việc ông Hàm có ý đồ đào mộ và báo cho ông Phúc. Mâu thuẫn của họ được giải quyết ở cuối chuyện nhờ nhân vật nữ khác là Minh, bạn của Đào, cũng là một người thầm yêu Tùng. Ngoài ra, chuyện cũng mô tả những chuyện rắc rối "quanh lũy tre làng" thông qua những quan hệ phức tạp, và những nhân vật rất thú vị khác như cặp tình nhân ông Quản Ngư - bà Đồ Ngật, hay chuyện Tám lé cố ngóc đầu lên khỏi cuộc sống bí bách, hay những hành vi bất nhân của ông Phúc với chính bố mẹ, anh em của mình trong Cải cách ruộng đất. Câu chuyện cũng bị che phủ bởi những "bóng ma", từ huyền thoại ma ám của nhân vật Quỳnh - Quềnh cho đến sự hiện diện của một thầy mo - cô Thống Bệu. Nhưng thực chất của những bóng ma đó được lý giải vừa đơn giản mà lại rất triết lý của chính người trừ ma - cô Thống Bệu "Đừng tưởng đất này đã hết ma. Ma còn đang đẻ sinh đôi sinh ba nữa cơ đấy! Các vị có nhớ hôm trước hợp tác họp để đòi chia ruộng khoán không? Cứ như cuộc chọi gà, chọi trâu ngày xưa! Chả ai chịu nhả miếng nào. Cả làng có mỗi xứ Đồng Chùa là thượng đẳng điền, thì từ ông cán bộ đến bà xã viên, ai cũng muốn vơ giật về mình. Có đời thuở nào anh em ruột cũng cãi nhau, tranh nhau đất hương hỏa ngay ở đấy. Vợ chồng ông Tý Hỏi mới kinh, bỏ nhau mỗi người một niêu, hợp tác giao ruộng, ai cũng tranh thửa tốt. Vợ chồng thách nhau giữa làng mày mà làm ông phá. Mấy là đòi ruộng cũ không được thì bù lu bù loa lên, cứ nhao nhao như chào mào ăn dom! Xưa nay người ta chỉ sợ người chết chứ ai sợ người sống? Có đúng không hở? Chỉ sợ ma chứ ai sợ người. có phải không hở? Thế mà hôm ấy tôi đi nhận ruộng hộ con cháu, thấy hốt quá. Nhìn chả thấy người đâu, toàn ma. Những thân người sống ngồi đấy mà mà cấm còn nhận ra ai nữa." Tiểu thuyết kết thúc dang dở khi những mâu thuẫn bắt đầu được hạ nhiệt và những bóng đen hắc ám bắt đầu lộ ra mặt, mối tình Tùng - Đào bắt đầu có tín hiệu tốt đẹp và kết thúc bằng việc nhân vật Minh lặng lẽ khóc sau khi làm cầu nối hòa giải cho hai người. Nguồn wikipedia
Mảnh đất lắm người nhiều ma là tên một tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khắc Trường được sáng tác vào năm 1990. Mảnh đất lắm người nhiều ma được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Khắc Trường viết về nông thôn Việt Nam. Tiểu thuyết này từng được dựng thành phim truyền hình với tiêu đề Đất và người năm 2002 bởi đạo diễn Nguyễn Hữu Phần, và nhận được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991…. Lưu ý Bạn có thể vừa nghe vừa bình luận đánh giá truyện mà không làm gián đoạn âm thanh
“Đất và Người”, chuyển thể từ tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” là một trong số ít những bộ phim Việt Nam để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi, mỗi lần xem lại đều hào hứng với từng cảnh quay, từng nhân vật. Bộ phim Việt khai thác bối cảnh nông thôn thời kỳ đổi mới mà cô bạn cùng phòng đại học đã chọn để mỗi bữa cơm chúng tôi cùng ngồi xem – bộ phim hiếm hoi xuất hiện trong một “rừng” những phim Hàn, phim Mỹ nổi như cồn của người chúng tôi gọi là “ánh sáng văn hóa”. Mê phim tìm đến truyện và sau khi đọc hết cuốn sách của Nguyễn Khắc Trường, một vài so sánh, những dòng suy nghĩ bất chợt xuất hiện trong đầu. 1. Cái kết có hậu hơn của phim Phim Việt Nam vẫn thường tròn trịa, người tốt ắt sẽ gặp những điều tốt đẹp và cái kết của Đất và Người không nằm ngoài vòng tròn ấy, nó thỏa mãn một người xem như tôi vì sự trọn vẹn. Cái kết có hậu của phim thể hiện rõ ràng nhất qua hai nhân vật anh Quềnh và bà Son. • Anh Quềnh Có lẽ ai đã xem qua bộ phim sẽ chẳng thể anh Quềnh do diễn viên Hán Văn Tình thủ vai – một người nông dân chân chất làm lụng quanh năm với ruộng vườn. Đây thậm chí còn là nhân vật được nhận xét là đắt nhất của phim, được ví như Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – người nông dân bị bần cùng hóa. Tôi đã háo hức bao nhiêu khi đọc những dòng văn của Nguyễn Khắc Trường để xem anh Quềnh dưới ngòi bút của ông được khắc họa ra sao nhưng đáng tiếc đây lại là nhân vật đoản mệnh, xuất hiện và biến mất. Anh Quềnh khỏe như vâm xuất hiện ngay đầu truyện, trong cảnh đói quay quắt của làng Giếng Chùa và bị cái đói rút đến gần cạn sức lực. Anh Quềnh – người đã bị cả Giếng Chùa quay lưng vì lời đồn bị ma trên đồi Ông Bụt ám, đến trong đám ma cụ tổ họ Vũ Đình, trộm rượu trong bếp rồi uống đến say khật khưỡng. Tôi gắng đi tìm những lời Chí Phèo “chửi trời, chửi đời” nhưng không thấy, người đàn ông ấy trong truyện ít lời quá, những lời đầu tiên và cũng là cuối cùng của anh là lời tự sự trong căn lều rách nát, với người đàn bà tha hương ôm đứa con chết yểu vì đói. Sáng sớm hôm sau, tỉnh dậy sau cơn say, anh Quềnh có bao giờ nghĩ, độc giả có bao giờ đoán đó lại là những phút cuối cùng? Không ăn gì, người đàn ông sức vóc ấy lao đi làm giúp hàng xóm để rồi “chết vì ăn quá no”. Và đến khi chết người đàn ông ấy vẫn chẳng được yên, người em ruột chôn anh mình trong một manh chiếu rách, để sau khi bị tố giác lại đào mộ người đã khuất lên để tránh điều tiếng. Vảo phim, anh Quềnh từ một kẻ nát rượu bị ông Hàm lợi dụng đã có những giây phút hoàn lương trở về cuộc sống của một nông dân chân chính, đóng góp vào công cuộc đổi mới ở làng quê nghèo. Cái hoàn lương khi có một cô vợ bên cạnh, có người chăm lo mình và để mình quan tâm đã mang lại những niềm vui và sự hồi sinh cho nhân vật, để anh ríu rít hát ca cùng vợ “tình cốp là tình tình cốp”. Vẫn là một Quềnh ham uống rượu đến mức bị người mưu đồ làm hỏng cái máy xây xát nhưng không còn dễ nổi nóng và bị lợi dụng nữa. Đạo diễn đã đưa người vợ vào phim để cứu thoát Quềnh, đưa anh về trở thành một người nông dân, một người công nhân đóng góp sức lực cải cách quê hương. Nếu như Nam Cao cho Chí Phèo gặp Thị Nở rồi bị cô cự tuyệt và tìm đến cái chết để giải thoát thì bộ phim đã giải quyết trọn vẹn hơn, cho Quềnh gặp vợ và để anh được sống, hiền hậu, chân chất, không giàu nhưng lương thiện và hạnh phúc. • Bà Son Người phụ nữ Việt Nam điển hình, hết lòng vì chồng vì con, người đã hi sinh sự ngại ngần, xấu hổ và có lẽ là cả sĩ diện của một người phụ nữ để đến gặp người yêu cũ để xin rút đơn kiện về, cho chồng mình một con đường thoát khỏi tù tội. Không đoản mệnh như Quềnh nhưng người phụ nữ này cũng không được tác giả truyện chọn cho một con đường sống. Bị vợ của người yêu cũ chửi đổng vì vu oan, lại cảm thấy bị làm nhục có kẻ bịt mặt xưng danh người cũ bắt cóc rồi lột trần quần áo, bà đã tìm đến con đường tự vẫn. Người phụ nữ sắc nước hương trời mà số phận bất hạnh, đến chết vẫn không thể nhắm mắt vì oan khuất chưa tan. Trong phim, bà đã kịp ngăn mình lại để bơi qua thay vì trẫm mình xuống dòng nước lạnh. Con sông có phải là một ẩn dụ cho những ràng buộc, những kìm kẹp bà chịu đựng bao lâu nay và bơi qua đó, bà đã tìm cho mình một con đường mới, bà thực sự được sống chứ không còn như một cái bóng để người ta ép buộc và lợi dụng. 2. Romeo và Juliet của Việt Nam Đào và Tùng – hai người yêu nhau bất chấp hai dòng họ có mối thù trải qua bao đời. Những cuộc hẹn hò nơi gốc nhãn, những ám thị mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu khiến người đọc chẳng đừng liên tưởng đến mối tình Romeo và Juliet của Shakespear. Cũng là mối tình trái ngang và gặp nhiều trở ngại nhưng tư tưởng thời kỳ đổi mới, Nguyễn Khắc Trường đã cho hai nhân vật của mình sống thay vì chọn cái chết xót xa như nhà viết kịch Anh thế kỉ 17. Song tình yêu của đôi lứa vẫn bị chi phối bởi ý thức dòng họ, gia đình, khi Tùng say đắm trong tay người yêu vẫn kịp tỉnh táo nhận ra âm mưu của ông Hàm bố Đào để báo cho họ hàng và Đào, dù biết mười mươi hành động của bố là sai, cũng quy chụp rằng Tùng đã lợi dụng cơ hội để làm hại bố cô, làm hại dòng họ cô. Sự gay gắt của Đào với Tùng trong cả phim vào truyện chính là nút thắt tác giả hướng tới vì họ là người đại diện của thanh niên thời đại ấy và tình yêu của họ là thứ duy nhất có thể hóa giải mối thù hằn truyền kiếp giữa hai dòng họ. Có ai đã như tôi, dẫu biết mười mươi tác giả sẽ chẳng dễ dàng để đôi lứa chia lìa vẫn lo lắng khi đọc đến trang Tùng nói sẽ ra nước ngoài lao động học tập vì không được mọi người ủng hộ, ngay cả người yêu cũng không nghi ngờ, rồi chút khó chịu khi cô Đào trong phim cặp kè với một anh chàng trên phố huyện giàu chỉ để chọc tức người yêu dù anh chàng kia chẳng lấy gì làm tử tế? Thế mới biết tình yêu chẳng bao giờ là một chủ đề cũ, ngay cả trong bối cảnh viết về nông thôn thời đổi mới, người ta cũng muốn viết về một tình yêu mới – thứ tình yêu vượt lên mọi trở ngại, mọi chông gai để đến được với nhau. Gọi tình yêu của Đào và Tùng là một Romeo – Juliet của Việt Nam hẳn cũng chẳng quá lời. 3. Mảnh đất ít người nhiều ma Có nhà văn đã từng nhận xét rằng tiểu thuyết này nên được đặt tên là “Mảnh đất ít người nhiều ma” – những con ma sống thực chứ không phải là những linh hồn đã chết. Đọc tác phẩm, tôi dường như chỉ thấy những Đào, Tùng, Minh, trung tá Chỉnh hay hai nhân vật bạc mệnh – bà Son và anh Quềnh là người, còn những nhân vật khác – những cái đinh của tác phẩm đều là những con ma, bị tư tưởng họ hàng gia tộc đè nặng và dùng đủ mọi thủ đoạn, mưu mô để đạt được mục đích. Đó là ông Hàm – người đàn ông mờ mắt vì mối thù “tiền, tình” đến mức nỡ lòng quật tung cả nấm mồ người đã chết. Đó là Thủ – một bí thư xã mà vì muốn cứu anh mình đã xúi chị dâu gặp người tình cũ xin xỏ rồi đổ oan cho hai người rằng nửa đêm tằng tựu, trùm mũ giả danh là người tình cũ bắt cóc “lột trần” chị dâu mình hòng mong bà tố cáo làm ầm lên. Là Phúc – người họp các Đảng viên trong họ tại nhà để đưa ra những chiến lược để chống lại họ hàng bên Trịnh Bá. Đi cùng với hai nhân vật đình đám nhất trong hai họ Trịnh Bá – Vũ Đình, còn là những nhân vật tưởng chừng như nhỏ nhưng cũng là ma giữa cuộc đời, con ma tham nhũng trục lợi, con ma chỉ chờ cơ hội để hạ bệ lẫn nhau. Lời cảm thán của ông thống Biệu “chỉ có thể trị được ma chết, chứ không trị được ma sống” như ám ảnh trong tâm người đọc. Vậy là người thày phù thủy của cả vùng cũng đã phải chịu thua những cái xấu đang hiển hiện trước mắt, và càng đau đớn hơn khi sau khi con người ấy chết thì người ta đã lợi dụng tâm linh để phục vụ lợi ích cá nhân. Chị Bé – người đàn bà bị chủ nhà bạc bẽo đuổi khỏi nhà mang theo cái xác của đứa con gái nhỏ, người không một trốn nương thân phải trú nhờ nhà anh Quềnh, sau phụ việc cho nhà ông Hàm đã xin được lư hương của cụ thống Biệu và trở thành người cai quản tâm linh của làng. Mong muốn được sống, mong muốn được “ngồi mát ăn bát vàng”, nhà cao cửa rộng đã tiếp sức mạnh để chị “hiếp” người đàn ông mưu mô tên Hàm ngay trong đêm bà Son được chôn cất xong, để rồi chị chiếm được cái phần xác thịt của ông và bắt tay cùng Thủ, cùng Hàm trong “ma đồ bát quái” của hai cái đầu hiểm ác. Tác giả đã để ngỏ, không miêu tả cảnh chị bé nói những gì tại đám ma ông thống Biệu mà thay bằng cảnh Đào và Tùng ôm nhau “hòa làm một” trong đêm để cho người đọc tự vẽ ra những cái kết riêng, nhưng có lẽ khỏi cần nói thì ai cũng hiểu ông hướng đến một kết thúc tròn trịa cái đôi Romeo và Juliet kia hẳn sẽ chẳng để mọi thứ yên. 4. Truyện thực tế hơn, trần trụi hơn Cảm giác của tôi là như vậy khi thấy tình cảm của Minh – bạn thân của Đào dành cho Tùng. Trong truyện, ta bắt gặp đôi Romeo – Juliet trốn gia đình gặp nhau và những “nhu cầu” rất đời thường, nói toạc ra là nhu cầu xác thịt. Tác giả tả về cái “rạo rực” của Tùng khi chạm vào da thịt Đào, cũng chẳng ngại ngần nói thẳng rằng áo sống cô chẳng còn ngay ngắn. Miêu tả một lần thôi nhưng người đọc thì ai cũng hiểu rằng cái sự “manh động” ấy hẳn đã là quen thuộc. Thậm chí đời cha chú của Tùng – đôi nam nữ yêu mà không đến được, hay không dám đến với nhau là bà Son và ông Phúc cũng đã hò hẹn nhau ra gần bờ sông, cây được dựng như thành giường để “ôm ấp” nhau. Vào phim, trước sự kiểm duyệt của các đơn vị quản lý, hay vì văn hóa của Việt Nam chưa quen với việc phim về “thời cũ” lại đưa vào những cảnh tế nhị ra trắng trợn như thế nên cái đôi Romeo – Juliet kia có gặp nhau cũng gặp ban ngày ban mặt, trốn ra một góc nói chuyện, hay có gặp buổi tối cũng đừng mong nhìn thấy “ái ân” trên màn ảnh. Vậy nên cũng không khó hiểu tại sao đạo diễn cũng không ngần ngại cắt phéng đoạn “lỡ” khi Tùng chẳng kìm được mình trước ánh mắt rạo rực của Minh để lôi cô vào bụi rậm. Ở ngay gần người yêu, chỉ đang giận hờn nhau thôi mà Tùng đã không kìm lại được và Minh – dù biết có thể gây khó xử cho hai người cũng “mê muội” trong một giây phút, dù cuối cùng đã kịp ngăn mình lại. Vậy mới nói truyện “trần trụi” hơn khi tác giả dám miêu tả sự “táo tợn” của tình yêu tuổi trẻ, nhất là khi tình yêu ấy bị ngăn cản. Câu kết thúc truyện “Em khóc” khi nói về giọt nước mắt của Minh khi chứng kiến cảnh Đào và Tùng ôm nhau, hòa làm một dù mới mấy tiếng trước anh đã “lỡ” rung động trước cô có thể khiến nhiều người day dứt. Minh từ bỏ, Minh hi sinh cho tình yêu của hai bạn nhưng liệu cô có thực sự cam lòng? Bao nhiêu nước mắt rồi sẽ phải rơi khi chứng kiến bạn bè hạnh phúc và liệu một ngày cô có nổi dậy để giành giật và bị tình yêu làm mù quáng để rồi lại bị lợi dụng? Hay sẽ lại có một Bà Son khác ở Giếng Chùa? Trần trụi hơn còn là ở đó. 5. Sạn của bản in Bản in mà mình mua có nhiều lỗi chính tả, và tần suất xuất hiện nhiều hơn khi truyện càng đi đến hồi kết. Đọc có cảm giác người soát lỗi đã ngủ gật hay quá vội vàng mà bỏ qua đoạn cuối, những lỗi này gây khó chịu lớn trong quá trình đọc. Đánh giá 4/5 Waterlily, 27/08/2014
TỪ KHÓAlắm ngườimảnh đấtnhiều matruyện kinh điểntruyện online – Mảnh đất lắm người nhiều ma là tên một tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khắc Trường được sáng tác vào năm 1990. Mảnh đất lắm người nhiều ma được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Khắc Trường viết về nông thôn Việt Nam. Tiểu thuyết này từng được dựng thành phim truyền hình với tiêu đề Đất và người năm 2002 bởi đạo diễn Nguyễn Hữu Phần, và nhận được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991…. —————— Tác giả Nguyễn Khắc Trường Thu Gọn Nội Dung
Tác phẩm này sẽ trở lại qua bản dựng của NSND đạo diễn Trung Hiếu, thiết kế mỹ thuật họa sĩ, NSƯT Doãn Bằng, âm thanh NSƯT Phùng Tiến Minh, với dàn diễn viên mới. Tác phẩm là những câu chuyện vừa bi vừa kỳ ảo xoay quanh mối hận thù kéo dài nhiều đời giữa hai dòng họ Vũ Đình và Trịnh Bá. Không chỉ là câu chuyện cá nhân vì mối thù gia tộc mà không từ thủ đoạn nào để hãm hại nhau, tác phẩm còn khéo léo phản ánh mặt tối của bộ máy chính quyền xã trong xã hội nông thôn cũ. Tuy nhiên, đằng sau màn đêm ấy vẫn ánh lên hy vọng của tình yêu, của những người đảng viên tốt. Tác phẩm có sự tham gia diễn xuất của NSƯT Quang Thắng, NSƯT Đức Quang, các nghệ sĩ Thanh Hương, Xuân Hồng, Đặng Tùng, Tiến Huy, Thanh Tùng, Hoàng Sơn… Dự kiến, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” sẽ được công diễn vào tháng 9 tại rạp Công Nhân, Nhà hát Kịch Hà Nội.
Năm 1990, nhà văn Nguyễn Khắc Trường cho ra mắt tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, lấy bối cảnh nông thôn ở miền Bắc Việt Nam trong thời kì Đổi Mới. Trọng tâm tác phẩm xoay quanh mối thù lâu đời lẫn những đấu đá trong chính quyền giữa hai dòng họ Vũ Đình và Trịnh Bá. Khởi đầu của mâu thuẫn chính là ông cha Trịnh Bá Hoành nghi ngờ ông Vũ Đình Đại rạch tấm tranh thần Hổ của dòng họ mình, và ông thề sẽ “không thể đi chung đường, ngồi chung chiếu” với dòng họ Vũ. Mối thù này tiếp tục kéo dài tới thời ông Trịnh Bá Hàm, lại cộng thêm việc bà Son vợ ông Hàm từng có mối tình sâu nặng với ông Vũ Đình Phúc làm cho ông Hàm căm hận nhà ông Phúc đến tận xương tủy. Hai dòng họ hết lần này đến lần khác dùng mọi chiêu trò đến mức có thể gọi là bẩn thỉu, từ “trò dương” đến “trò âm” để hạ bệ bên kia. Nhưng cả hai bên đều không ngờ rằng, trong xung đột giữa họ lại nảy nở tình cảm nồng thắm của Tùng cháu ông Phúc và Đào con ông Hàm. Mặc dù giữa họ xảy ra hiểu lầm từ sau khi Tùng phá âm mưu lật mộ của ông Hàm nhưng đến cuối tác phẩm, nhờ cầu nối là Minh mà hai người “đã chập vào nhau làm một”. Song song với những câu chuyện xoay quanh hai dòng họ lớn ở Giếng Chùa là những vấn đề nảy sinh trong đời sống ở nông thôn cha con đấu tố nhau trong cải cách ruộng đất, tranh chấp đất đai, tín ngưỡng dân gian, những phận người khốn cùng, mối tình giữa ông Quản Ngư và bà Đồ Ngật. Ở chương cuối tác phẩm, cư dân ở Giếng Chùa đang chuẩn bị cho một kế hoạch nào đó, dự báo cho một cuộc đối đầu thẳng thắn về vấn đề đất phê bình Nguyễn Đăng Mạnh từng có lần đề nghị sửa tên cuốn tiểu thuyết thành “Mảnh đất ít người nhiều ma”. Quả đúng như vậy. Những bóng ma hiện hình đầy rẫy trong tác phẩm, ma quỷ theo nghĩa đen cũng có, ma quỷ theo nghĩa bóng cũng có, nhiều tới mức lấn át nơi trần gian, người thì đếm trên đầu ngón tay còn ma quỷ nhìn chỗ nào cũng thấy có bóng lảng vảng. Bóng ma đói khátNgay từ những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, xóm Giếng Chùa đã hiện lên với bộ dạng xác xơ, tiêu điều. Vốn là “xóm vẫn quen đứng đầu về cái sang cái giàu toàn xã”, với cổng làng to đứng sừng sững, những con đường làng lát gạch phẳng phiu, song nơi này cũng phải chịu thua khi cái đói quét qua, làm người khi ghé qua xem phải ngạc nhiên mà thốt lên “không dè”. Những bà đồ Ngật, ông Quản Ngư, những người ngày thường vốn là đại gia của xóm, “quen ăn trắng mắc trơn” “Bộ dạng rõ là coi tiền bạc chẳng ra gì”, bây giờ phải sờ đến cả những thứ như bánh ngô, cám mà thường ngày họ vẫn coi là thức ăn cho gà cho lợn. Người giàu đã khóc, còn kẻ nghèo thì sao? Tất nhiên, cái khổ ngày thường của họ trong cái thời buổi này dâng lên gấp nhiều lần, tới độ họ dường như không còn sức để mà kêu cho sự khổ nữa. Đó là cái chết hết sức đau đớn của lão Quềnh, một ông già “ngơ ngơ ngẩn ngẩn, lúc nhớ lúc quên”, chết vì cơn đau bụng sau khi ăn hết “một nồi ba cơm” của nhà vợ chồng lão làm mướn cho. Người ta cho rằng lão chết vì ma đồi Ông Bụt bắt, nhưng có lẽ không phải vậy. Cái chết của lão gợi liên tưởng đến cái chết của bà lão trong “Một bữa no” của Nam Cao, chết vì quá no, chết sau khi được ăn một bữa cơm đẫy cái bụng đã trống rỗng quá lâu. Đó là anh Thó, vì kiếm ăn mà giả ma ăn trộm trong đám tang nhà người ta, vì kiếm ăn mà anh chấp nhận làm cái việc bất lương là đi đào mộ người chết lên. Đó là người đàn bà lôi thôi đến từ cái vùng mà “vì đói quá mà đã có nhà bỏ thuốc trừ sâu vào nồi cháo để ăn rồi cùng chết cho rảnh nợ”, mang theo đứa con gái đã chết, chắc là cũng vì đói; chị dùng đủ chiêu trò để có thể leo lên làm bà chủ trong ngôi nhà bà chị làm mướn. Vậy đấy, cái đói đã nhào nặn con người ra chẳng khác nào những bóng ma, vật vờ và tha hóa. Những bóng ma đói khát ấy cùng những hành động thấp hèn của họ lại khiến người đọc thấy xót xa hơn là cười chê, bởi rốt cuộc thì họ cũng vì cuộc sống bần cùng mà ra cả ma hủ tục Hoạt động tín ngưỡng, các phong tục là những sinh hoạt không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người nhất là ở nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên đôi khi, tín ngưỡng dân gian bị biến tướng, con người ta trở nên cuồng tín. Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, bóng ma hủ tục thể hiện qua việc người dân tin vào thế giới tâm linh đến nỗi thành mê tín, những mưu toan lợi dụng tín ngưỡng cho một mục đích nào dù không xuất hiện nhiều trong tác phẩm nhưng nhân vật cô Thống Biệu có thể xem như là một biểu tượng cho tín ngưỡng ở Giếng Chùa. Từ ngoại hình đến hành động lẫn những câu nói của cô đều toát lên cái vẻ gì đó ma mị, thần thánh. Cô có tài nhìn thấy ma, và tự cô cũng dự báo trước cái chết của mình, dọn dẹp những món đồ thờ cúng trước khi ra đi. Tín ngưỡng dân gian còn thể hiện qua những câu chuyện về ma núi Ông Bụt, những bóng ma lúc đàn ông khi đàn bà thường hiện ra để trêu chọc người sống. Những giai thoại bí ẩn, rợn người như thế, chính là một phần trong đời sống dân gian ở nông thôn. Người ta tin vào những chuyện kì bí ấy đến mức, những sự việc vốn dễ dàng lí giải bằng một câu trả lời thực tế, lại bị gán cho là bị ma trêu, bị ma bắt, mà cuộc đời của lão Quềnh là một ví dụ. Anh thanh niên Quỳnh khỏe mạnh, thật thà trở nên ngơ ngơ ngẩn ngẩn, và mọi người ta cho là do ma nữ hớp hồn; bố của Quỳnh nghe người ta chỉ mà mải miết đi tìm con cuốc về trị “bệnh” cho anh đến mức “mặt mũi cứ nhớn nhác như người hóa dở” rồi chết. Đến khi lão Quềnh tức Quỳnh chết sau một trận đau bụng, người ta tiếp tục gán cái chết của ông là vì đã động đến ma đám tang vừa cho thấy được tập tục thờ cúng ở vùng đất này, vừa vạch trần tục lệ cổ hủ. Trước hết là đám tang của cụ Cố chi họ Vũ Đình, mà qua đám tang này ta thấy được bộ mặt nhố nhăng của những kẻ lợi dụng phong tục tín ngưỡng để khoa trương thanh thế, để trục lợi. Chỉ qua cách sắp đặt của ông Phúc trưởng họ đã có thể tượng tượng đám tang này long trọng như thế nào, thật đúng là cách tổ chức của gia đình có tiền có quyền hòm đóng bằng gỗ dổi chứ không thể dùng gỗ tạp, giết con lợn hơn một tạ để đãi khách, chia đội kèn làm hai nhóm một ở cạnh linh cữu một để thổi rước các đoàn thể của làng xã vào nhà, buổi tối có lễ cầu hồn “vui lắm, có trống có kèn như đêm hát đêm nhạc”. Nói về buổi cầu hồn, nghi thức này chẳng khác nào là cơ hội cho ông trưởng phường bát âm cùng đội kèn kiếm tiền từ chủ nhà “Tiền đang bay như bươm bướm vào lòng thuyền, và hình như toàn những tờ bạc kha khá cả? Trưởng phường bát âm liếc nhìn lòng càng phấn chấn”. Những câu văn vừa mỉa mai vừa chua chát, đám tang vốn là nơi đầy bi ai nhưng ở đây sao lại giống ngày hội đến thế, nơi có những bóng ma lợi dụng phong tục tín ngưỡng để giương oai, để thu với đám tang long trọng của cụ Cố, thì đám tang của lão Quềnh hay bà Son lại đơn giản đến đáng thương. Với cái cớ nực cười “chết đâu chôn đấy. Làm thế là chiều theo ý các ngài dưới đó, để các ngài khỏi quấy quả”, Quàng quấn xác anh mình trong bó chiếu rồi đem đi chôn ở hố đồi ông Bụt “nơi xưa nay không ai đặt mộ, vì ở đây rất nhiều mối”. Còn bà Son sau khi chết được hưởng cái đám tang nhanh nhẹn, gọn gàng, “người chết bất đắc kỳ tử ở ngoài nhà thì không được đưa vào khỏi giọt gianh để tránh trùng họa”. Ba cái tang, ba người chết, thật đúng với câu “Chỉ có người chết là thiệt thôi”, tưởng đâu nằm xuống mồ đã rũ sạch vướng bận trần gian, song họ vẫn chịu bó buộc không ít từ cái gọi là tục lệ truyền thống, từ cái suy nghĩ tư lợi của người còn một số người ở cái xóm Giếng Chùa này, người ta còn tin rằng tín ngưỡng sẽ giúp họ đạt được những mục đích nào đó. Vì mối thù gia truyền với họ nhà Vũ Phúc, ông Hàm quyết “lấy âm trị dương. Phen này tôi sẽ yểm cho cả họ nhà nó không ngóc lên được”. Trong thực tế, đã có không ít câu chuyện đồn đại về chuyện dùng ma thuật thần bí, bùa chú thường được dùng để trù ếm hại người. Ông Hàm có lẽ cũng biết được chuyện này, ông ta tin tưởng rằng những lời khấn vái, hành động quật mả lật sấp thi thể của cụ Cố sẽ giúp ông ta trả thù được cho dòng họ, gia đình ông Phúc sẽ lâm vào cảnh bần cùng, bại vong. Hay chị Bé, người làm thuê cho nhà ông Hàm, với quyết tâm bước một bước lên làm bà chủ nhà ông Hàm, chị ta giả lên cơn đồng nhập trong buổi cúng cơm sau khi bà Son chết được ba ngày. Tất nhiên, chị ta đã thành công, thậm chí được ông Hàm và Thủ nhìn bằng con mắt khác, coi trọng hơn khi chị ta tự đề nghị tiếp tục lên cơn đồng nhập trong đám tang cô Thống để “nói vài câu phán truyền có lợi cho hai ông!... lời lúc ấy là lời thánh, thánh đã cản thì người ta không dám coi nhờn đâu ạ!”. Tín ngưỡng bây giờ không còn là nét đẹp văn hóa đơn thuần nữa, tín ngưỡng bây giờ đã trở thành một “thứ vũ khí vô hình” để những người như ông Hàm hay chị Son dùng làm công cụ phục vụ cho những âm mưu của mình, lợi dụng việc “ở đây người ta vẫn trọng luật âm lắm” để dễ dàng đổi trắng thay đen, giành lấy quyền lợi về tay Khắc Trường đã đem vào Mảnh đất lắm người nhiều ma bức tranh tín ngưỡng dân gian hết sức đa dạng, đồng thời, qua việc chỉ ra cái sai của người dân trong việc mê tín dị đoan đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo về hệ quả của hủ tục nếu con người cứ tiếp tục làm méo mó, biến tướng phong tục truyền thống thì nó sẽ có nguy cơ mất dần cái vai trò làm chỗ dựa tinh thần, trái lại sẽ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho chúng ma tham vọngCon người luôn khao khát và phấn đấu để đạt đến một mục đích mình mong muốn. Nhưng có một số người vì muốn chạm đến thành quả nào đó mà sẵn sàng bán rẻ lương tâm, bày ra đủ thứ thủ đoạn để triệt hạ người khác bất kể đó là họ hàng ruột thịt. Ở Giếng Chùa xảy ra không ít trường hợp như vậy. Cô Thống Biệu quả nói không sai “Ma nó vẫn ngủ gà ngủ gật ngay trong lòng các người”. Bóng ma tham vọng đã nhập hồn và ngự trị bên trong không ít người ở cái làng quê này, và họ bây giờ không còn hảnh xử cho ra hồn người nữa mà loài yêu ma đã thay họ đối nhân xử câu rằng đụng tới đất đai hay của cải là không còn cha mẹ anh em láng giềng gần gì nữa. Xét câu này vào bối cảnh ở Giếng Chùa thì không trật nhịp nào. Vì muốn giành một chân trong chính quyền “Muốn còn chỗ đứng thì phải biết lựa”, Vũ Đình Phúc cùng với vợ sẵn sàng hùa với cấp trên của mình là Hùng Cường đấu tố cha mình - ông Vũ Đình Đại là địa chủ, là giai cấp bóc lột trước mặt bàn dân thiên hạ trong Cải cách ruộng đất. Vì muốn giành đất tốt mà các vị có chức có quyền tranh thủ tìm cách vơ miếng ngon về nhà mình “vừa rồi bao nhiêu ruộng tốt là cán bộ với những người thân tín dấm dúi chia nhau”; anh em, vợ chồng ngày thường bảo hòa thuận yêu thương nhau đến dịp này thì lại lao vào nhau đánh đấm, chửi bới “Vợ chồng ông Tý Hỏi mới kinh, bỏ nhau mỗi người một niêu, hợp tác giao ruộng, ai cũng tranh thửa tốt” “tranh giành đất cát đến mức đôi bên vác gậy phang nhau chan chát như trâu húc”. Chính cô Thống, thầy cúng nức tiếng trong làng còn phải bó tay trước những bóng ma này “Đấy, có đúng là ma sống nổi lên thì chẳng có bùa ngải nào trị nổi, phải không nào? Bùa ngải chỉ yểm được ma chết, chứ ma sống thì chịu!”. Những cuộc tranh chấp, xô xát khủng khiếp kia, một mặt là do việc thi hành chính sách không rõ ràng, xác đáng của những người có trách nhiệm, song nguyên do lớn hơn là ở chính một số người đã bán linh hồn mình cho quỷ dữ, để của cải, tiền bạc, danh vọng làm mờ mắt. Với họ ở đây không có tình người, ở đây chỉ có những quyền lợi cá nhân mà họ nhất quyết phải giành lấy và họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để đạt một số làng quê Việt Nam, thông thường sẽ tồn tại hình thức dòng họ đại gia đình bao gồm nhiều thế hệ, nhiều tiểu gia đình ở bên trong. Họ là những người cùng huyết thống, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và đôi khi, những dòng họ mạnh, lâu đời, có tiếng tăm trong làng sẽ nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong hệ thống tổ chức của làng. Ở xóm Giếng Chùa, hai dòng họ có nhiều gương mặt nhất trong chính quyền là họ Vũ và họ Trịnh. Người ta có câu “Một núi không thể có hai hổ”, đã vậy hai dòng họ này còn có sẵn những mâu thuẫn bên ngoài nên cả hai bên thường xuyên tìm mọi cách để hạ bệ, đẩy bên còn lại ra khỏi những chức vụ quan trọng tại địa phương. Không có cuộc họp nào mà những người trong hai dòng họ không đứng lên cạnh khóe, nói xéo nói móc nhau, thậm chí khi xung đột lên đến đỉnh điểm họ chửi bới, đốp chát lẫn nhau khiến cho cuộc họp ở địa phương trở nên bát nháo, lộn xộn chẳng khác nào cái chợ. Thế cờ vai vế lúc này đang nghiêng về họ Trịnh, vì Trịnh Bá Thủ đang giữ chức Bí thư Đảng ủy, đã vậy chủ tịch xã là Trần Văn Sửu “với Sửu, Thủ như người ơn mưa móc, anh có thể hoàn toàn lái theo mình” nên Thủ nghiễm nhiên chẳng khác nào “ông vua” trong bộ máy “bao sân sang công việc chính quyền, có những quyết định độc đoán”. Khác với ông anh trai nóng vội, cộc cằn, Thủ lại là người thâm trầm, lạnh lùng, thường ra vẻ nghiêm túc, phân minh song khi đã ra tay là thâm độc không ai đỡ nổi. Sự việc ông Hàm đào mộ cụ Cố nhà Vũ bị phát giác đã đẩy Thủ vào thế khó, vì nếu không xử đúng luật thì chắc chắn gia đình ông Phúc sẽ không để yên. Cách xử trí của Thủ là lợi dụng tình cảm trước đây của ông Phúc và bà Son, buộc bà Son phải hẹn ông Phúc ra gặp mặt rồi Thủ cùng cháu vợ là Cao - phó công an xã ra mặt ngay lúc đôi bên đang nói chuyện để vu cho ông Phúc tội vụng trộm bất chính giữa đêm, và buộc ông Phúc phải lựa chọn một là rút đơn kiện hai là lập biên bản. Nhưng với Thủ như thế vẫn chưa đủ để khiến ông Phúc phải “ngã ngựa”, Thủ ép bà Son kí vào đơn tố cáo ông Phúc lợi dụng nhà bà có rắc rối để cưỡng ép bà; rồi tiếp tục cùng Cao đợi lúc bà Son từ nhà chị gái đi ra, giả làm ông Phúc bắt cóc bà Son rồi cưỡng hiếp để ngụy tạo chứng cứ, để chắc chắn “những đơn từ, biên bản kia mới có hiệu lực”. Thủ đinh ninh rằng bà Son sẽ tức tưởi về khóc với bà Cả và phi vụ này sẽ thành công, nhưng hắn ta không ngờ rằng hành động hèn hạ này đã đẩy bà Son vào cái chết. Bà Son, người đàn bà đẹp nhất làng, con người hiền lành, nhẫn nhục ấy lại trở thành công cụ để chính em rể mình - bí thư Thủ thực hiện những trò bẩn thỉu nhằm vụ lợi cá nhân. Cái chết đau đớn của bà Son như một tiếng chuông gióng lên để thức tỉnh những kẻ mang tâm ma trong người. Đồng thời, nó như một cái tát thẳng vào cái tệ nạn quan liêu, bè phái, bộ máy chính quyền địa phương không còn là chỗ dựa tin cậy cho người dân mà đã trở thành chiến trận cho những ông “tai to mặt lớn” đấu đá với nhau; và những “cuộc chiến” như thế này đây đã khiến bao người không thành ma cõi âm thì cũng thành ma cõi cạnh bà Son, một người có thể xem là nạn nhân của cuộc chiến quyền lực đó là Tùng, cháu ông Phúc, anh trung sĩ vừa trở về sau khi xong nghĩa vụ quân sự. Khác với ông bác mình, Tùng đại diện cho sức trẻ tươi mới, năng động. Anh là người công tư phân minh, không có tư tưởng ganh đua, tranh chấp, không để mình cuốn theo những cuộc đấu đá giữa hai dòng họ. Trong những buổi sinh hoạt Đảng, Tùng sẵn sàng phê bình, chỉ ra mặt tiêu cực của một số Đảng viên ngay cả ông Phúc. Chính tính cách này đã khiến Tùng không được lòng cả hai bên “ông Phúc đã nhận xét về Tùng khi duyệt danh sách đối tượng là còn thiếu chín chắn, còn lớp cớp” còn Thủ thì “khi bỏ phiếu thì anh gạch tên Tùng đầu tiên! Tùng sao lại có thể ngồi cùng chiếu với mình được!”. Những kẻ lạ mặt tấn công đe dọa Tùng ở cuối tác phẩm “...ba người đội tung đống rạ lên, nhảy xổ vào. Những quả đấm bố xuống tới tấp. Một tiếng gằn trong cổ họng - Nhớ là những cuộc họp sau phải câm mồm đi!” đã cho thấy bóng ma hắc ám đang thống trị cái Giếng Chùa này và không biết đến bao giờ thì chính nghĩa mới chiến thắng trong cuộc chiến của quyền lực, của tham một cuộc phỏng vấn, Nguyễn Khắc Trường tâm sự rằng ông đã dành 3 tháng đến những vùng nông thôn để lấy tư liệu vì ông muốn “viết một cái gì đó cho ra hồn” Dẫn theo Trần Hoàng Thiên Kim[1]. Tất cả những cái hủ lậu, những ham muốn ti tiện, những tội lỗi trong Mảnh đất lắm người nhiều ma là những gì đã và đang diễn ra ngoài cuộc sống đời thực, ở cái nơi mà con người đang bị tha hóa về nhân cách, trở thành những bóng ma ngay chính trong đời sống thế tục. Mảnh đất lắm người nhiều ma để lại cho mỗi người đọc một câu hỏi rất đáng suy ngẫm Trong chúng ta có ai đang là Thủ, là ông Phúc, là ông Hàm, là một bộ phận người vì tư lợi mà sẵn sàng lao vào xâu xé lẫn nhau không? TÀI LIỆU THAM KHẢOAnh Chi, 2019. “Hiện tượng Nguyễn Khắc Trường và “Mảnh đất lắm người nhiều ma””. Truy xuất từ Hoàng Thiên Kim, 2016. “Vùng đất khai sinh tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma””. Truy xuất từ Văn Long & Lã Nhâm Thìn 2010. Văn học Việt Nam sau 1975 Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy. Nhà xuất bản Giáo Khắc Trường, 2003. Mảnh đất lắm người nhiều ma. Nhà xuất bản Văn học
phim mảnh đất lắm người nhiều ma